hoặc
Tài liệu học tập Đề thi học kì 2 môn Ngữ Văn lớp 11 trường THPT Lý Thái Tổ năm học 2014-2015, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Đề thi học kì 2 môn Ngữ Văn lớp 11 trường THPT Lý Thái Tổ năm học 2014-2015 có 0 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Học tập,Phổ thông Trung học,Tài liệu học tập lớp 11,Đề kiểm tra học kì 2 môn Văn lớp 11 có đáp án

Đề thi học kì hai môn Ngữ Văn lớp 11 trường THPT Lý Thái Tổ năm học 2014-2015 là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các bạn tự luyện đề cũng như thực hành, củng cố kiến thức của mình được kiên cố nhất. Chúc các bạn ôn tập Ngữ văn 11 hiệu quả, đạt kết quả tốt trong kì thi sắp đến.

Đề kiểm tra học kì hai môn Ngữ Văn lớp 11

TRƯỜNG THPT LÝ THÁI TỔ
NĂM HỌC 2014 - 2015

 

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG GIỮA KÌ II
MÔN: NGỮ VĂN KHỐI 11
Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề.
Đề thi gồm: 02 trang.

Câu một (3 điểm) Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Chúng ta đang sống trong 1 thế giới số, nơi mọi hoạt động từ các sinh hoạt thường ngày tới các sự kiện đặc trưng, từ công việc tới vui chơi giải trí, chúng ta đều tự gắn chặt với thế giới số.
F.A (Forever Alone) là 1 khái niệm ám chỉ các người hướng nội, ít hoặc không có bạn bè, thích tận hưởng cảm giác cô đơn 1 mình.

Bởi vì rất dễ hiểu, tự thoả hiệp với bản thân bao giờ cũng dễ hơn thoả hiệp với các người khác. Biểu hiện của các người F.A là luôn kêu ca về tình trạng độc thân của mình nhưng lại luôn gắn chặt đời sống với môi trường “ảo” internet, bất kể ngày hay đêm, bất kể ngày thường hay lễ tết.

Cuộc sống của chúng ta đang diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube… chúng ta đang tự cô lập mình với thế giới thực, chúng ta đang tự biến mình thành F.A.

Trung bình, hằng ngày mỗi người Việt Nam tiêu tốn 2h đồng hồ vào mạng xã hội, nhưng có lẽ phải đa dạng hơn như vậy. Tôi đã từng tự thách thức mình không sử dụng điện thoại, máy tính, internet trong 1 tuần, và tôi thất bại ở ngày vật dụng 5. Dường như tôi đã bị phụ thuộc quá đa dạng vào các tin nhắn, vào các cuộc gọi, vào các cập nhật về bạn bè, xã hội xung quanh tôi. Tôi “phát điên” khi không biết mọi việc đang diễn ra xung quanh mình như thế nào, ai cần đang cần liên lạc với mình và hơn hết, tôi có cảm giác mình đang bị ‘lãng quên’ khi tôi tách mình ra khỏi thế giới số. Còn bạn thì sao?

Một người bạn Nhật Bản nói với tôi: “Ở Nhật Bản, tất cả mọi người giao dịch qua điện thoại di động, từ văn phòng xuống tàu điện ngầm, và thậm chí là ở trong nhà”. Việc này có vẻ như không chỉ xảy ra ở riêng Nhật Bản.

Ở Việt Nam ngày nay, vợ gọi chồng xuống ăn cơm qua Facebook, 2 người hứa nhau đi ăn tối, mỗi người dán mắt vào 1 cái điện thoại di động, bạn bè hội họp, lại mỗi người ôm khư khư 1 cái điện thoại di động.

Chúng ta mất dần nhu cầu giao dịch thực tế. Nếu trẻ con lớn lên trong 1 môi trường mà nơi đó người ta không có nhu cầu giao dịch thực tế, chúng sẽ trở thành các người lớn không còn khả năng giao dịch thực tế.

Điều này đang xảy ra. Càng ngày chúng ta càng giấu mình đằng sau bàn phím và tự đánh mất khả năng giao dịch của mình. Hằng ngày, thiên hạ kết bạn, tán chuyện với nhau qua các trang mạng xã hội, nhưng lại không thể nói chuyện khi gặp mặt nhau. […]

Khái niệm F.A đã chuyển dịch từ các người cô đơn sang cả các người có đôi, có cặp. Với tình trạng 2 người hứa hò nhau mà mỗi người tự nói chuyện với cái điện thoại di động của mình thì thực ra cũng chẳng khác nào F.A

Nguy hiểm hơn nữa là khi chính người lớn chúng ta làm lây lan tình trạng này sang cho trẻ con. Khi các bậc phụ huynh còn đang mải mê với thế giới riêng của mình và bỏ mặc con cái với các chiếc máy tính bảng thì hoàn toàn dễ hiểu khi trẻ con cũng tự thu mình vào thế giới riêng của chúng. Và điều sau đây hoàn toàn có thể xảy ra: Một thế hệ F.A mới sẽ ra đời thừa kế lại chính hội chứng F.A của cha mẹ chúng.

Vì vậy, các thanh niên hãy thôi phàn nàn hay kể đến tới tình trạng F.A của mình. Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao dịch đa dạng hơn với xã hội và tận hưởng đời sống thực tại. Các bạn sẽ hết F.A.

(Dẫn theo http://www.vnexpress.net)

  1. Văn bản trên kể đến tới vấn đề gì trong xã hội hiện đại? Đặt tên cho văn bản.
  2. Xác định các phương thức biểu lộ được sử dụng trong văn bản?
  3. Người viết cho rằng: “Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao dịch đa dạng hơn với xã hội và tận hưởng đời sống thực tại. Các bạn sẽ hết F.A”. Ý kiến của anh chị?

Câu hai (7 điểm): Cái mới của thơ Xuân Diệu qua đoạn trích:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

(Trích Vội Vàng - Xuân Diệu)

Đáp án đề kiểm tra học kì hai môn Ngữ Văn lớp 11

TRƯỜNG THPT LÝ THÁI TỔ
NĂM HỌC 2014 - 2015

ĐÁP ÁN  KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG GIỮA KÌ II
MÔN: NGỮ VĂN KHỐI 11

I. Hướng dẫn chung

  • Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
  • Do đặc thù của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc áp dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích các bài viết có tư duy khoa học, lập luận nhan sắc sảo, có khả năng cảm thụ văn học và tính sáng tạo cao.

II. Đáp án và thang điểm

 Câu một (3 điểm)

1. (1,0 điểm)

  • Văn bản trên kể đến tới vấn đề:
    • Trong xã hội hiện đại, tình trạng lạm dụng công nghệ khiến cho con người ngày càng trở nên cô đơn, mất đi nhu cầu giao dịch trong đời sống thực.
    • Có thể đặt tên cho văn bản dựa trên nội dung được trình bày:
  • Công nghệ số và tình trạng F.A của con người
    • Những vấn đề nảy sinh trong thời đại công nghệ

2. Xác định các phương thức biểu lộ sử dụng trong văn bản: (0,năm điểm)

  • Thuyết minh
  • Nghị luận

3. Người viết cho rằng: “Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao dịch đa dạng hơn với xã hội và tận hưởng đời sống thực tại. Các bạn sẽ hết F.A”. HS có thể có các ý kiến khác nhau: (1,năm điểm)

    1. Đồng ý vì: đời sống thực sinh động, hấp dẫn hơn thế giới ảo
    2. Phản đối vì: xã hội hiện đại không thể thiếu công nghệ. Phát minh công nghệ nâng cao chất lượng sống
    3. Phân tích lí giải cụ thể hơn, đời sống hiện đại cần công nghệ nhưng không nên lạm dụng mà cần có thời gian và cách thức sử dụng hợp lí, hài hòa.

Khi học sinh đưa ý kiến và bảo vệ được ý kiến thì vẫn cho điểm kĩ năng (0,5đ) nhưng chỉ ý kiến 3 mới cho điểm tối đa.

Câu hai (7,0 điểm)

1. Giới thiệu về Xuân Diệu, bài thơ Vội Vàng và vấn đề cần nghị luận: (0,năm điểm)

  • Cái mới của thơ Xuân Diệu qua đoạn thơ vật dụng 2 trong Vội Vàng

2. Giải quyết vấn đề

  • Giải thích sơ lược: “Cái mới trong thơ”: Những cách tân trong thơ trên 2 bình diện nội dung và hình thức (0,năm điểm)

1. Cái nhìn mới về thế giới: (1,năm điểm)

  • Người xưa chỉ nhìn thiên nhiên để “xúc cảnh sinh tình”
  • Thế giới mùa xuân không mới nhưng Xuân Diệu đã phát hiện mùa xuân với cái nhìn mới: “Cái nhìn của Xuân Diệu về thiên nhiên là cái nhìn tình tứ nên thiên nhiên thường hiện ra với vẻ đẹp xuân tình” (SGV Ngữ văn 11 Nâng cao, NXB Giáo dục 2007), thế giới thiên nhiên thân thuộc trở nên mới lại, hấp dẫn, mời gọi.

2. Cảm nhận mới về thế giới (1,năm điểm)

  • Thơ xưa chính yếu cảm nhận thế giới bằng thị giác, thính giác, từ đó gợi hứng làm thơ
  • Xuân Diệu cảm nhận thế giới mùa xuân khi “thức nhọn giác quan” thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác… khiến cho mùa xuân hiện lên tràn ngập nhan sắc màu, thanh âm, tràn trề ánh sáng, hương thơm: “của ong bướm này đây tuần tháng mật… lá của cành tơ phơ phất… Yến anh, khúc tình si… tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”…

3. Quan điểm thẩm mĩ mới (1,0 điểm)

  • Thơ cổ lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người
  • Xuân Diệu lấy sự sống của con người giữa tuổi trẻ và tình yêu làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên dương gian này: “Ánh sáng chớp hàng mi, tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần…”.

4. Nghệ thuật thơ có sự cách tân (1,0 điểm)

  • Hình ảnh táo bạo: “Ánh sáng chớp hàng mi, tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần…”.
  • Thể thơ tự do với các câu thơ vắt dòng, cách biểu lộ táo bạo tạo nhịp thơ hăm hở, sôi trào mãnh liệt

3. Kết thúc vấn đề: (0,năm điểm)

  • Đoạn thơ hay trong bài thơ, bày tỏ tình yêu say đắm của Xuân Diệu với cuộc đời, con người
  • Cái mới mà Xuân Diệu mang lại qua các vần thơ của mình đã góp phần đổi thay hẳn diện mạo của thơ ca dân tộc
Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download