hoặc
Tài liệu học tập Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ có 0 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Học tập,Phổ thông Trung học,Tài liệu học tập lớp 11,Hình tượng người phụ nữ qua các tác phẩm văn học

Hình tượng người đàn bà Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ là tài liệu văn mẫu THPT, giúp các bạn học tốt môn ngữ văn. Qua bài phân tích, chúng ta thấy được vẻ đẹp về hình thức cũng như tâm hồn của người đàn bà Việt. Mời các bạn cùng tham khảo.

Hình tượng người đàn bà trong văn học Việt Nam

Hình tượng người đàn bà Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ

“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Đã từ lâu, hình ảnh người đàn bà Việt Nam xưa đã xuất hiện đa dạng qua các câu ca dao với các vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn 5 lao động và chống chọi. Hình ảnh đó cũng được bộc lộ rất tài tình qua 2 bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương Và Thương Vợ của Trần Tế Xương.

Hình ảnh đầu tiên của người đàn bà Việt Nam được bộc lộ qua 2 bài thơ đó là hình tương người đàn bà Việt Nam chịu đa dạng khổ đau, nặng nhọc trong đời sống. Đó là hình ảnh bà Tú nặng nhọc, gian truân kiếm sống, tất tả ngược xuôi “Quanh 5 buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên 1 hoàn cảnh làm ăn nặng nhọc, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc nặng nhọc suốt cả 5, không kể mưa nắng trên mom sông - cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. Thấm thía nỗi nặng nhọc, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy khổ thân mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con khổ thân hơn. Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như 1 sự sáng tạo:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi nặng nhọc, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu nhan sắc, thấm thía hơn:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Câu thơ gợi nên 1 sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của các người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh tới mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên các nặng nhọc, cực nhọc mà bà Tú và người đàn bà Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua.

Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự thống khổ vì không làm chủ được số phận của mình:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Mở đầu là 1 âm thanh vang vọng, đầy ân hận hả: Trống canh dồn. Nhưng dù mãnh liệt tới mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, giả dụ không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng yên. Cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. Nửa đêm là thời gian sum hiệp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, đó vậy mà lại có người đàn bà tĩnh dậy vào đúng thời điểm thiêng liêng đó, hay vì cả đêm người đàn bà đã không ngủ được vì thiếu vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng 1 nỗi đau? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi tới một điều đáng sợ đôí với 1 người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng tới gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người đàn bà, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về 1 bi kịch đang ngày càng tới gần hơn với bà:

“Trơ cái hồng nhan với nước non”

Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày 1 trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là sắc, bộ mặt xinh xắn của người đàn bà. Đó là điều mà bất cứ người đàn bà nào cũng khôn xiết tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn ngay lập tức với “hồng nhan” như 1 hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, yên lẽo tới đắng cay? “Hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ lẽ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đáng thương cho các người đàn bà đương thời bị đè nén, áp bức với các thủ tục phong kiến tới mức xơ xác, héo mòn cả 1 phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh vắng, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm.

“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Hai câu thơ vẽ nên 1 quang cảnh rất thật và cũng ngập tràn bao nỗi niềm tác giả. Một người đàn bà mà phải ngồi uống rượu 1 mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi kế bên không có ai để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, 1 mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quên đi bảo nỗi cô đơn, tủi hổ trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể yên lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để khổ đau cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được bộc lộ chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn. Trăng vốn là biểu trưng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mong và hi vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa tới mức “khuyết chưa tròn” - 1 hạnh phúc không hề trọn vẹn, 1 cuộc đời còn dang dở, éo le với các trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó 1 nỗi cô đơn, trống trải. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên 1 nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chưa được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc nhan sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, các suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà.

Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download