hoặc
Tài liệu học tập Đề thi thử THPT Quốc gia lần 3 năm 2015 môn Ngữ Văn trường THPT Chuyên Đại học Vinh, Nghệ An, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Đề thi thử THPT Quốc gia lần 3 năm 2015 môn Ngữ Văn trường THPT Chuyên Đại học Vinh, Nghệ An có 5 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Học tập,Luyện thi đại học,Luyện thi đại học khối D,Môn Văn khối D,Đề thi thử đại học môn Văn có đáp án

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Đề thi thử THPT Quốc gia lần 3 5 2015 môn Ngữ Văn trường THPT Chuyên Đại học Vinh, Nghệ An là đề tham khảo có chất lượng dành cho các bạn thử sức trước kì thi THPT Quốc gia 2015 sắp đến. Hi vọng tài liệu này giúp các bạn ôn thi tốt nghiệp, ôn thi đại học môn Văn tốt hơn. Mời các bạn tham khảo.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA, LẦN 3 NĂM 2015

MÔN NGỮ VĂN  (Thời gian làm bài: 180 phút) 

Câu I (3 điểm)

1. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:

THI THỔI XÔI NẤU CƠM

Ðây là 1 trong các môn thi để tuyển nữ quan ở thôn Hạc Ðỉnh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá. Cuộc thi bắt đầu từ sáng tinh sương ngày giáp tết. Hàng 5, dân làng phải tuyển 48 (trong số hàng trăm) hổ thẹn cho đội đền Mã Cương. Sau tiếng trống khẩu, mỗi nữ sinh xuống 1 thuyền thúng trên đầm Giang Ðình, mang theo kiềng, nồi, chõ, gạo nếp, gạo tẻ cùng rơm ướt và bã mía tươi. Các cô chèo thuyền ra giữa đầm, sẵn sàng bếp, vo gạo để chờ lệnh bắt đầu cuộc thi. Sau tiếng trống khẩu mới được nhóm lửa, các cô thổi cơm hay đồ xôi trước tuỳ ý, miễn là xong sớm để chèo thuyền vào nộp cơm và xôi cho Ban giám khảo. Nếu xong trước, xôi vẫn phải ngon, dẻo thì mới đạt điểm cao.

Khó khăn đối với các cô là ở chỗ nhóm bếp thổi lửa, phải giữ sao cho thuyền khỏi chòng chành, bếp lửa hướng ra phía gió dễ tắt. Các bà mẹ đã dạy các cô cách thức nhóm lửa bằng mồi ướt, thổi lửa mỗi khi bếp tắt, cách chọn hướng kê bếp theo chiều gió, giữ lửa cháy điều hoà, cách ước lượng thời gian. Các cô đốt các nén hương và trông theo các đoạn hương cháy để biết nồi cơm, chõ xôi đã vừa chín chưa.

Nếu gặp mưa phùn gió bấc, các cô sẽ trải qua 1 cuộc thi khó nhọc, còn nếu như mưa nặng hạt thì các cô sẽ được đưa lên bãi Giang Ðình, trổ tài dưới các mái tranh. Cuộc thi diễn ra suốt buổi sáng.

a) Văn bản trên đây sử dụng phương thức diễn đạt gì? Dựa vào đâu để nhận ra điều ấy? (0,25 điểm)

b) Đây là trò chơi dân gian truyền thống hay là là trò chơi hiện đại? Câu nào trong văn bản cho ta biết điều đó? Kể tên các đồ dùng, nguyên liệu mà mỗi cô gái tham gia thi nấu cơm, thổi xôi mang theo. Trong các trang bị đó, có trang bị nào khác thường? (0,25 điểm)

c) Những khó khăn mà các cô gái dự thi thổi xôi nấu cơm gặp phải là gì? Điều đó đòi hỏi ở người con gái các đức tính nào? (0,năm điểm)

d) Viết đoạn văn ngắn nêu suy nghĩ của anh chị về việc hồi phục 1 số trò chơi dân gian trong các 5 gần đây. (0,năm điểm)

2. Đọc đoạn văn sau:

“Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu... Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã đến cái dốc bên kia của đời. Ở các người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đày đọa cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, 1 trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng đa dạng. Nó là 1 cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã tới. Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”.

(Nam Cao, Chí Phèo, Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, trang 149 – 150)

Trả lời các câu hỏi:

a) Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì? Nêu ý chính của đoạn văn. (0,25 điểm)

b) Nêu cụ thể các câu tường thuật, câu cảm thán, câu nghi vấn trong đoạn văn trên. Sự xen kẽ đa dạng loại câu như vậy có tác dụng gì? (0,năm điểm)

c) Hãy chỉ ra các hình ảnh ẩn dụ và hình ảnh so sánh được sử dụng trong đoạn văn. (0,25 điểm)

d) Viết 1 đoạn văn ngắn về chủ đề: sự thức tỉnh của Chí Phèo. (0,năm điểm)

Câu II (3 điểm)

Hiện nay, bạo lực học đường đang là tình trạng đáng báo động. Có người cho rằng cá nhân gây ra bạo lực phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Lại có người đi tìm nguyên nhân từ gia đình, nhà trường, xã hội. Ý kiến của anh (chị) về vấn đề trên?

(Trình bày trong 1 bài văn khoảng 600 từ).

Câu III (4 điểm)

Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, nhân vật trữ tình thổ lộ:

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Anh (chị) hãy trình bày cảm nhận của mình về các điều “em” đã “nghĩ”, cũng là các điều đã làm nên nội dung trữ tình của bài thơ.

Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Câu I (3 điểm)

1. Đọc hiểu 1 đoạn văn... (1,5đ)

a. Văn bản trên sử dụng phương thức thuyết minh. Dấu hiệu để nhận biết: văn bản giới thiệu hầu hết về địa danh, thời gian, thành phần, nguyên nguyên liệu và các bước tiến hành 1 hội thi. (0,25đ)

b. Hội thi thổi xôi nấu cơm là 1 trò chơi dân gian truyền thống. Câu “Ðây là 1 trong các môn thi để tuyển nữ quan ở thôn Hạc Ðỉnh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá” cho ta biết điều đó. Những đồ dùng mà các cô gái mang theo khi thi thổi xôi nấu cơm gồm: kiềng, nồi, chõ, gạo nếp, gạo tẻ cùng rơm ướt và bã mía tươi. Trong các trang bị đó, rơm ướt, bã mía – nhiên liệu dùng để đun bếp là trang bị khác thường. (0,25đ)

c. Những khó khăn mà các cô gái gặp phải trong trò chơi này là: 1 mình nổi lửa đun bếp trong 1 chiếc thuyền thúng chòng chành giữa đầm lộng gió, phải đun bếp bằng rơm ướt và bã mía là các trang bị rất khó cháy. Những điều đó đòi hỏi ở các cô gái sự thông minh, khéo léo, kiên trì, chịu khó. (0,5đ)

d. Đoạn văn phải được viết bằng các câu đúng ngữ pháp, các câu liên kết chặt chẽ với nhau để cùng làm vượt trội chủ đề. Chủ đề của đoạn văn có thể là: việc hồi phục các trò chơi dân gian trong thời gian gần đây đã có tác dụng tích cực trong việc giữ gìn bản nhan sắc văn hóa dân tộc. (0,5đ)

(Lưu ý: Thí sinh cũng có thể trình bày chủ đề khác, miễn là hợp lý).

2. Đọc đoạn văn... 1,năm điểm

a. Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Ý chính của đoạn văn: Chí Phèo thức tỉnh. (0,25đ)

b. (0,5đ)

  • Những câu tường thuật trong đoạn: Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc... Ngoài bốn mươi tuổi đầu... Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã đến cái dốc bên kia của đời. Ở các người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đày đọa cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, 1 trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng đa dạng. Nó là 1 cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã tới. Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau.
  • Những câu nghi vấn: Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao?
  • Câu cảm thán: Buồn thay cho đời!
  • Việc xen kẽ đa dạng loại câu như vậy làm cho lời kể trở nên đa dạng giọng (đa thanh), diễn tả đa dạng cung bậc cảm xúc. Cũng nhờ vậy, hiện trạng cuộc đời của Chí Phèo được soi từ đa dạng góc nhìn khác nhau.

c. 0,25 điểm

  • Trong đoạn văn, cái dốc bên kia của đời, cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã tới là các hình ảnh ẩn dụ.
  • Cả câu Nó là 1 cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã tới là 1 cấu trúc so sánh. Như vậy, ở đây hình ảnh có tính ẩn dụ được dùng trong 1 câu văn sử dụng phép so sánh.

d. Đoạn văn phải được viết bằng các câu đúng ngữ pháp, liên kết chặt chẽ với nhau để làm vượt trội chủ đề theo yêu cầu. (0,5đ)

Câu II (3 điểm)

Nghị luận xã hội: Viết 1 bài văn (khoảng 600 từ) phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về nguyên nhân tình trạng bạo lực học đường hiện tại.

  1. Tình trạng bạo lực học đường là tình trạng sử dụng “ngôn ngữ của quả đấm” để giải quyết các mâu thuẫn, xích mích trong không gian của trường học. Đây là tình trạng đã được các công cụ thông tin đại chúng nói đa dạng trong thời gian qua, gây nên đa dạng lo âu, bất bình trong mọi tầng lớp xã hội. (0,5đ)
  2. Rất đa dạng người đã suy nghĩ về nguyên nhân của tình trạng này và ý kiến nêu lên không phải bao giờ cũng hợp nhất. Có người giải nghĩa vấn đề từ bản năng thích phô diễn bạo lực của thanh niên. Có người truy hỏi tìm cái gốc của vấn đề ở sự phối hợp loạc choạc giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục con em. Sự nhiều của ý kiến giúp ta có được cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề. (0,5đ)
  3. Loại ý kiến lý giải vấn đề bằng cách quy trách nhiệm cho các cá nhân gây bạo lực hoàn toàn có cơ sở. Tại sao trong cùng 1 môi trường, chỉ có 1 ít kẻ thích phô diễn sức mạnh cơ bắp để giải quyết vấn đề? Rõ ràng, ở họ có sự méo mó về nhân cách, có sự méo mó về nhận thức và tình cảm. Những người như thế, bất kể là học sinh, thầy cô giáo hay phụ huynh đều cần phải bị phê phán. Trước hết, họ phải chịu trách nhiệm về chính hành động của họ, không thể đổ lỗi cho ai. (0,75đ)
  4. Loại ý kiến quy mấu chốt của vấn đề vào môi trường giáo dục, vào sự phối hợp chưa tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội, cũng có căn cứ kiên cố. Khi nào, ở đâu có sự phối hợp giáo dục tốt thì khi đó, ở đó, tình trạng bạo lực học đường ít xảy ra, và giả dụ có xảy ra thì cũng chỉ ở mức xô xát nhẹ, có thể hòa giải được. Ngược lại, khi nào, ở đâu có sự buông lỏng kỷ cương, có sự ỷ lại về trách nhiệm, sự coi thường tác động xấu của các hình thức giải trí kích động bạo lực thì khi đó, ở đó, tình trạng đánh nhau tàn tệ (đôi khi theo kiểu xã hội đen) càng trở nên khó kiểm soát. Rõ ràng, nhà trường, gia đình và xã hội không thể chối bỏ được trách nhiệm của mình trên vấn đề này. (0,75đ)
  5. Liên hệ bản thân: Là học sinh, chúng ta không thể làm ngơ trước hiện tượng bạo lực học đường. Tình trạng này chỉ có thể được ngăn chặn giả dụ mỗi cá nhân sống hiền hòa, thương yêu, không vô cảm với nỗi đau và bất hạnh của kẻ khác; biết tôn trọng kỷ cương; biết học cách hội thoại với nhau;… Bạo lực học đường và đa dạng loại bạo lực khác có mẫu số chung là sự mất nhân tính. Chính vì vậy, nó, cũng như các loại bạo lực đó cần phải được loại trừ để chúng ta có được 1 môi trường sống văn minh, nhân ái. (0,5đ)

Chú ý: Bài viết cần đưa ra các dẫn chứng tiêu biểu để tăng thêm sức thuyết phục.

Câu III (4 điểm)

Nghị luận văn học: Hãy trình bày cảm nhận của mình về các điều “em” đã “nghĩ”, cũng là các điều đã làm nên nội dung trữ tình của bài thơ Sóng.

  1. Giới thiệu chung về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng (vị trí của nhà thơ trong nền thơ Việt Nam hiện đại, bài thơ Sóng trong di sản thơ Xuân Quỳnh, nội dung cảm xúc của bài thơ…). (0,5đ)
  2. “Em” trong bài thơ là nhân vật trữ tình – 1 người con gái đang yêu và tôn thờ tình yêu. Qua các điều “em” đã nghĩ “trước muôn trùng sóng bể”, người đọc nhận ra được đa dạng điều về bản tính của tình yêu cũng như các nỗi niềm rất cụ thể của nhân vật trữ tình – sự hóa thân của chính tác giả. (0,5đ)
  3. “Em” – nhân vật trữ tình đã thật tinh tế khi mượn “sóng” làm ẩn dụ tình yêu. Nhờ ẩn dụ này, bao nhiêu điều “em” khám phá về tình yêu được nói ra 1 cách đầy cảm xúc. Sóng có đa dạng đối cực như tình yêu cũng có đa dạng đối cực. Sóng luôn “tìm ra tận bể” như tình yêu chân chính hướng về các điều cao cả. Sóng có nguồn gốc bí ẩn cũng như sự bí ẩn vô tận của tình yêu. Sóng không bao giờ dừng im như tình yêu luôn trăn trở, bồi hồi. Sóng luôn hướng về bờ như tình yêu luôn hướng tới sự gắn bó chung thủy. Sóng còn mãi giữa cuộc đời như tình yêu chân chính có nhựa sống vượt thời gian… (1,0đ)
  4. Những điều “em” đã nghĩ cho thấy “em” vừa có khát vọng hiểu thấu tình yêu nói chung, vừa có mong muốn cháy bỏng được hiểu mình và biểu hiện mình trong tình yêu. Quả thật, “em” đã biểu hiện mình như 1 người con gái cả nghĩ, đầy lo toan, đầy trách nhiệm. Đặc biệt, em cũng là 1 con người táo bạo, muốn dâng hiến tất cả cho tình yêu dù trong lòng luôn có nỗi thao thức trước thời gian. (1,0đ)
  5. Bài thơ Sóng biểu hiện khá rõ nữ tính của nhân vật trữ tình và phần nào của chính tác giả. Những điều “em” nghĩ về căn bản cũng là các điều “em” đã trải nghiệm. Chính vì vậy, bài thơ có tính triết lý mà không hề khô khan. Nó là triết lý của trái tim, triết lý được chưng cất từ các dữ kiện cuộc đời của 1 người đã sống hết mình cho tình yêu. (0,5đ)
  6. Bên cạnh các điều “em” đã “nghĩ”, cách “em” biểu hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình cũng gây cho người đọc các ấn tượng đặc trưng. Câu thơ năm chữ được sử dụng rất phù hợp để tạo nên giọng điệu tự sự nồng nàn. Ân dụ “sóng” vừa kín đáo vừa phơi mở tự nhiên hé lộ 1 nội tâm vừa già dặn, sâu nhan sắc, vừa trẻ trung, bồng bột. Sự xuất hiện luân phiên của 2 hình tượng là “sóng” và “em” cũng góp phần tạo cho bài thơ 1 nhịp sóng đầy sức gợi… (0,5đ)
Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download