hoặc
Tài liệu học tập Phân tích bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh, tại tailieuhoctap.com , bạn có thể tải miễn phí,tài liệu được sưu tầm trên internet và cung cấp miễn phí để các bạn có thể nghiên cứuhọc tập,dạng file , có kích thước 0.00 M nếu không xem đươc do lỗi font bạn có thể tải font vni về để xem,tải liệu Phân tích bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh có 0 lần tải về miễn phí. Từ khóa tìm kiếm ,Học tập,Trung học cơ sở,Tài liệu học tập lớp 8,Văn mẫu lớp 8

Phân tích bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh là tài liệu tham khảo môn ngữ văn lớp 8, bao gồm 1 số bài văn mẫu được sưu tầm và tổng hợp. Hi vọng tài liệu này giúp các bạn có thể hoàn thiện bài viết của mình hay hơn. Mời các bạn cùng tham khảo.

PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỌNG NGUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH

PHÂN TÍCH BÀI THƠ “NGẮM TRĂNG” CỦA HỒ CHÍ MINH

     Trăng vốn là người bạn tâm tình, là nguồn cảm hứng dạt dào, vô tận của nhà thơ muôn đời. Trong thơ đông tây kim cổ đã có biết bao bài thơ hay viết về trăng, để lại ấn tượng không phai trong trái tim người đọc. Một trong các tác giả viết đa dạng về trăng là Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời cách mạng gian truân và quang vinh của Bác, Bác luôn coi trăng là tri âm, tri âm.

     Bài thơ Ngắm trăng (Vọng nguyệt) ra đời trong 1 hoàn cảnh đặc thù là chốn lao tù tối tăm của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, vào khoảng các 5 bốn mươi 2, bốn mươi ba của thế kỉ XX. Người tù nhà thơ tay bị xích, chân bị cùm, thân thể đọa đày nơi lao tù lạnh mà tâm hổn vẫn lâng lâng, thanh tú, say mê thưởng thức vẻ đẹp của đêm trăng sáng:

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

Đối thù lương tiêu vật nài nhược hà ?

(Trong tù không rượu cũng không hoa,

Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;)

     Câu thơ đầu tả thực cảnh lao tù khắc nghiệt: không rượu cũng không hoa. Trong tù làm gì có rượu và hoa là các trang bị vốn để tạo thi hứng cho tâm hồn thi sĩ? Xưa nay, uống rượu ngắm trăng, uống rượu thưởng hoa là chuyện thường tình. Trong các đêm trăng đẹp, thi nhân thường đem rượu ra uống để thưởng hoa, thưởng trăng. Có hầu hết rượu và hoa thì cuộc vui mới thật thú vị, mĩ mãn. Nói chung, người ta chỉ ngắm trăng khi thanh tú, tâm hồn thư thái. Nhưng ở đây, nhà thơ ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc thù là chốn lao tù mà bản thân bị đày đọa cực khổ, phải sống đời sống “khác loài người”, không phù hợp với thú thưởng nguyệt thanh cao. Làm gì có rượu và hoa để thưởng trăng ? Chẳng có nhà tù nào lại “nhân đạo” tới mức mỗi kì trăng sáng lại mang rượu và hoa tới cho tù nhân ngắm trăng. Ý thơ chỉ có thể hiểu rằng, trước cảnh đêm trăng quá đẹp, nhà thơ bỗng khao khát được thưởng trăng 1 cách trọn vẹn.

     Mặc dù giữa chốn lao tù, cái không rượu chồng lên cái không hoa…, hiện thực xám ngắt và lạnh lẽo phủ định hầu hết, nhưng trong trái tim yêu đời thiết tha của Bác, cảm hứng vẫn dạt dào, nồng đượm khiến cho Người phải thốt lên: Cảnh đẹp đêm nay khó lạnh lùng. Câu thơ diễn tả niềm xao xuyến, rạo rực của Bác trước đêm trăng đẹp. vầng trăng tròn đầy, ngời sáng kia như thúc giục, mời gọi thi nhân hãy ra giữa chốn tự do mà chiêm ngưỡng, mà bầu bạn với trăng. Ngặt nỗi hoàn cảnh giam cấm trói buộc cho nên việc thưởng trăng của người tù – nhà thơ chỉ thu gọn trong 1 cử chĩ âm thầm, yên lẽ:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

(Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)

     Bác say mê ngắm trăng qua cửa sổ. Bốn bức tường xà lim chật hẹp không ngăn nổi cảm xúc mênh mông. Bác thả hồn theo ánh trăng và gởi gắm vào đó khát vọng tự do cháy bỏng. Dường như nhà thơ muốn nhắn gởi tới trăng lời thì thầm tâm sự: Trăng ơi, trăng có hiểu lòng ta yêu trăng tới độ nào?

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

     Vầng trăng đã vượt qua song sắt để ngắm nhà thơ (khán thi gia) trong tù. Vậy là cả người và trăng đều chủ động tìm tới nhau. Nghệ thuật nhân hóa cho thấy nhà thơ tù nhân và vầng trăng tự do đã trở nên gắn bó thân thiết tự bao giờ.

     Cả bài thơ không có 1 âm thanh nào dù là nhỏ. Không gian tĩnh lặng tuyệt đối tôn lên cái sâu thẳm của hồn người và hồn tạo vật. Người ngắm trăng, trăng ngắm người trong yên lẽ, không nói mà nói bao điều.

     Hai câu thơ còn cho thấy sức mạnh tinh thần kì diệu của người tù nhà thơ đó. Trong này là nhà lao tối tăm, là hiện thực tàn bạo, còn ngoài kia là vầng trăng thơ mộng, là thế giới của tự do, của vẻ đẹp lãng mạn làm say đắm lòng người. Giữa 2 đối cực đó là song sắt nhà tù, nhưng song sắt nhà tù cũng bất lực trước khát vọng và rung cảm tinh tế của hồn thơ.

     Hai câu thơ chữ Hán trong nguyên tác diễn tả hầu hết hơn mối giao hòa đặc thù giữa người tù nhà thơ với vầng trăng. Lối đối rất chỉnh đã làm vượt trội tình cảm mãnh liệt của cả người và trăng. Giữa nhân và nguyệt dẫu có song sắt nhà tù chắn giữa nhưng con người đã để tâm hồn bay bổng vượt ra ngoài không gian chật hẹp, tù hãm để ngắm trăng sáng (Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt), tức là để bầu bạn. với vầng trăng đang tự do tỏa mộng giữa trời. Trăng dường như cũng hiểu lòng người và nhiệt thành đền đáp lại: Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ (Nguyệt tòng song khích khán thi gia).

Bấm nút thanks
sau đó bấm Tải xuống

Download tài liệu - chọn link phù hợp để download